ÔN LUYỆN VĂN 11

Thứ hai - 17/02/2020 23:46
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP VĂN HỌC 11-CÔ VINH
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 11
I. TIẾNG VIỆT:
Câu 1: Nêu khái niệm các thành phần nghĩa của câu?
Câu 2: Phân tích nghĩa sự việc và nghĩa tình thái trong những câu sau:
a. Thật hồn thật phách thật thân thể
Thật được lên tiên sướng lạ lùng
b. Nó không đến cũng chưa biết chừng.
c. Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về quê nhà mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái
nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ."
d. Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Câu 3: Nêu đặc điểm loại hình tiếng Việt?
Câu 2: Phân tích đặc điểm loại hình tiếng Việt thể hiện ở câu sau:
Ruồi đậu mâm xôi, mâm xôi đậu
Kiến bò đĩa thịt, đĩa thịt bò 2
(Câu đối)
II. TẬP LÀM VĂN:
Nghị luận văn học: Dàn ý sơ lược
BÀI 1: VỘI VÀNG (XUÂN DIỆU)
I. Tác giả, tác phẩm:
1.Tác giả : Xuân Diệu là nghệ sĩ lớn, nhà văn hóa lớn, có sức sáng tạo mãnh liệt,
bền bỉ và sự nghiệp văn học phong phú
2. Tác phẩm:
a. Xuất xứ: rút từ tập : Thơ thơ (1938), tập thơ đầu tay cũng là tập thơ khẳng định
vị trí của Xuân Diệu – thi sĩ « mới nhất trong các nhà thơ mới »
II. Nội dung, nghệ thuật của bài thơ :
1. Tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

* Khát vọng của Xuân Diệu.
Tôi muốn:
- Tắt nắng -> cho màu đừng nhạt
- Buộc gió ->cho hương đừng bay đi
Điệp từ, động từ mạnh “tắt, buộc” ->Thể hiện một ý muốn quá táo bạo, muốn đoạt
quyền của tạo hóa, muốn ngăn thời gian, chặn sự già nua, tàn tạ để giữ mãi hương
sắc, giữ cái đẹp của trần thế.
=> Ý tưởng có vẻ “ngông cuồng” xuất phát từ một trái tim yêu cuộc sống tha thiết,
say mê.
* Tâm trạng vui tươi trước cảnh sắc thiên nhiên:
- Điệp từ “này đây” liên tục, dồn dập -> thể hiện tiếng reo vui của tác giả trước sự
bất tận của thiên nhiên khi mùa xuân tới.
Nào là: Ong bướm – tuần tháng mật
Hoa – đồng nội xanh rì
Lá – cành tơ phấp phới
Yến anh – khúc tình si 3
Anh sáng – chớp hàng mi
- Nhịp thơ nhanh gấp gáp, từ ngữ giàu hình ảnh ->Tất cả đang ở thời kì xung
mãn nhất, sức sống căng đầy nhất. Mùa xuân tươi đẹp tràn đầy hương sắc.
“Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
Cách so sánh độc đáo, táo bạo, bất ngờ đầy sức khơi gợi. Gợi cho ta thấy nét đẹp
mơn mởn tơ non, đầy sức sống và vô cùng quyến rũ không thể nào cưỡng lại được
của cuộc sống, của mùa xuân.
=> Trong đôi mắt Xuân Diệu, cuộc sống xung quanh đầy sức sống, thiên nhiên
đầy xuân sắc, xuân tình. Nhà thơ khao khát đón nhận tất cả.
2. Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời.
“Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
- Nhà thơ bỗng hoài xuân, tiếc xuân khi mùa xuân chỉ mới vừa bắt đầu.
- Nhà thơ cảm nhận rất rõ bước đi của thời gian trong hơi thở của đất trời, bởi
những gì đẹp nhất của mùa xuân, của tuổi trẻ, của tình yêu rồi sẽ ra đi không trở
lại-> gợi sự bâng khuâng tiếc nuối khi nhận ra giới hạn của cuộc đời.
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non – xuân sẽ già
Xuân hết – tôi cũng mất”
- Kết cấu lặp, điệp từ “nghĩa là” vừa giải thích, vừa bộc lộ sự lo lắng, hốt hoảng
trước sự trôi chảy của thời gian.
Bởi thiên nhiên đối kháng với con người
“Lòng tôi rộng – lượng trời cứ chật
Xuân tuần hoàn – tuổi trẻ chẳng hia lần
Còn trời đất – chẳng còn tôi mãi”
Hình ảnh đối lập, giọng thở than u buồn
=> Nhà thơ cảm nhận được cái vô hạn của thời gian, của thiên nhiên đất trời với cái
hữu hạn ngắn ngủi của đời người nên xót xa nuối tiếc.
“Mùi năm tháng đều... than thầm tiễn biệt
Cơn gió xinh thì thào ... phai tàn, sắp sửa”
Sự nuối tiếc thấm sâu vào cảnh vật, tâm hồn vì tất cả rồi sẽ tàn phai, chia li và biến
mất- một cuộc ra đi vĩnh viễn.
“Chẳng bao giờ ôi chẳng bao giờ nữa”
- Điệp ngữ, tiếng thở dài luyến tiếc tuyệt vọng
3. Khát vọng sống, khát vọng cuồng nhiệt hối hả.
- Mau đi thôi! … -> Lời giục giã vội vàng: hãy sống, hãy chiêm ngưỡng, hưởng
thụ.
- Ta muốn … -> khát vọng thật táo bạo, mãnh liệt.
- Các động từ mạnh: ôm, riết, say, thâu, cắn …
=> Tình cảm thật mãnh liệt biến thành hành động cụ thể –thể hiện tình yêu cuồng
nhiệt, đắm say; một tấm lòng ham sống, khát sống. Chính tình yêu đó đem lại một
luồng sinh khí cho vạn vật, đất trời. 4
- Điệp từ “ cho” ( cho chuếnh choáng … cho đã đầy… cho no nê …)
-> Cảm xúc càng lúc càng cuồng nhiệt, tham lam, vồ vập hơn – hưởng thụ thỏa
thuê hương sắc của cuộc sống.
- “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”
-> Thể hiện sự dâng trào đỉnh cao của cảm xúc – Mùa xuân được nhân hóa như
một thực thể, nhân vật trữ tình muốn chiếm lĩnh, tận hưởng bằng tất cả năng lực
=>Lòng ham say, vồ vập, một khát vọng cồn cào muốn chiếm đoạt tất cả hương vị
của cuộc đời.
à Sống vội vàng, cuống quít không có nghĩa là ích kỷ, tầm thường, thụ động, mà
đó là cách sống biết cống hiến, biết hưởng thụ. Đó là quan niệm sống mới mẻ, tích
cực chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống.
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật:
- Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí
- Cách nhìn, cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ
- Sử dụng ngôn từ, nhịp điệu dồn dập, sôi nỗi, hối hả, cuồng nhiệt...
2. Ý nghĩa : quan niệm nhân sinh, quan niệm thẩm mĩ mới mẻ của Xuân Diệu –
nghệ sĩ của niềm khát khao giao cảm với đời
Các dạng đề làm:
Câu 1: Khao khát giao cảm với đời, ham muốn sống mãnh liệt trong tuổi trẻ và
tình yêu là đặc điểm nổi bật của thơ Xuân Diệu.
Anh ( chị ) hãy phân tích bài thơ “ Vội vàng “ của Xuân Diệu để làm sáng tỏ nhận
định trên.
Câu 2:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
-- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
Anh/chị hãy phân tích đoạn thơ trên để thấy quan niệm nhân sinh, quan niệm nghệ
thuật của Xuân Diệu.

BÀI 2 : TRÀNG GIANG (HUY CẬN)
I. Tác giả, tác phẩm: 5
1. Tác giả
: Huy Cận là nhà thơ lớn, một trong những đại biểu xuất sắc của phong
trào thơ mới với hồn thơ ảo não
- Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng triết lí
2. Tác phẩm:
- Xuất xứ : rút từ tập Lửa thiêng(1939)
- Nhan đề : so sánh tên gọi Tràng giang với Trường giang
II. Nội dung, nghệ thuật của bài thơ :
- Lời đề từ: Cảm hứng chủ đạo được tác giả nói rõ: Bâng khuâng trời rộng nhớ
sông dài (H.C)
=> Toàn bộ cảm xúc chi phối cảm hứng sáng tác của tác giả à chìa khoá để hiểu
bài thơ.
1. Khổ thơ 1:
Mở đầu bài thơ bằng cảnh sông nước mênh mông bất tận “Sóng gợn tràng giang
buồn điệp điệp”
- Điệp vần “ang” gợi lên sự mênh mông bất tận.
-Buồn “Điệp điệp” từ láy->gợi nỗi buồn miên man trải dài vô tận, không dứt.
->Câu thơ không chỉ nói sông, nước mà nói một nỗi buồn bất tận.
“Con thuyền xuôi mái nước song song”
- Con thuyền là hình ảnh tượng trưng cho cuộc đời lênh đênh, trôi nổi, vô định.
Thuyền và nước chỉ song song với nhau mà không gắn bó với nhau. Thuyền đi với
dòng để rồi chia li với dòng.
- Hình ảnh gợi sự chia lìa, rồi lại “củi một cành khô lạc mấy dòng”
-> Hình ảnh nhỏ bé mong manh, trôi nổi trên dòng sông, gợi liên tưởng đến kiếp
người trôi nổi trên dòng đời vô định.
=> Khổ thơ vẻ lên một không gian bao la, vô định, rời rạc, hờ hững với một con
thuyền, một nhánh củi lênh đênh gợi cảm giác buồn mênh mông, mang tâm trạng
thời đại.
2. Khổ thơ 2:
Bổ sung vào bức tranh sông nước các hình ảnh bé bỏng trong trạng thái tàn rụi “lơ
thơ cồn nhỏ, gió đìu hiu, làng xa vãng chợ chiều” – xuất hiện âm thanh cuộc sống
nhưng không làm cho cảnh vật bớt vắng vẻ mà càng làm cho bức tranh thiên nhiên
càng mênh mang, hiu quạnh hơn ( âm hưởng của các từ láy lơ thơ, đìu hiu )– gợi
một không gian tâm tưởng:
“ Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu …”
Câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc : mở ra một không gian đa chiều : ta như thấy
sông thêm dài, trời thêm cao và rộng hơn, bến sông ấy như thêm cô liêu, con người
càng thêm cô đơn, bé nhỏ, rợn ngợp trước vũ trụ rộng lớn, vĩnh hằng.
3. Khổ thơ 3:
- Hình ảnh “ bèo dạt về đâu hàng nối hàng” -> càng khắc sâu nỗi buồn về sự vô
định, phó mặc, bất lực trước cuộc đời. Đây cũng là tâm trạng chung của các nhà thơ
mới trong những năm ngột ngạt dưới thời thuộc Pháp. 6
- Điệp từ “ không” ( không cầu, không chuyến đò): gợi sự thiếu vắng , trống trãi,
không có tín hiệu của sự giao hòa, thân mật – Dường như Huy Cận muốn phủ nhận
tất cả những gì thuộc về con người - khắc sâu ấn tượng về sự chia lìa, tan tác.
“Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” -> thiên nhiên đẹp nhưng thiếu vắng hình dáng
con người.
=> Nỗi buồn ở bài thơ này không chỉ là nỗi buồn mênh mang trước trời rộng sông
dài mà còn là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cuộc đời.
4. Khổ thơ 4:
Nhà thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường mà vẫn giữ được nét riêng biệt
của thơ mới và hồn thơ Huy Cận.
“ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tạo ấn tượng về sự hùng vĩ của thiên nhiên.
“ Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” – thời gian đã biến chuyển, hoàng hôn
buông xuống và cánh chim đơn lẻ trong buổi chiều tà dễ gợi nỗi buồn xa vắng – nỗi
buồn nhớ quê hương:
“ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
So sánh với hai câu thơ của Thôi Hiệu:
“ Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”
Ta thấy với Huy Cận không cần có khói sóng trên sông vẫn nhớ quê nhà da diết ->
Tình cảm quê hương sâu nặng, thường trực, cháy bỏng.
=> Đứng trước cảnh sông nước bao la, những đợt sóng xa bờ tít tắp, thi nhân như
đang soi mình xuống dòng sông, thấm thía một nỗi buồn bơ vơ, lặng lẽ thả hồn
mình về với quê hương.
=> Nét cổ điển mà hiện đại trong thơ Huy Cận. Nỗi nhớ da diết của một cái tôi lãng
mạn. Đó chính là lòng yêu nước thầm kín của Huy Cận trước cảnh ngộ đất nước
mất chủ quyền.
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật:

-Sự kết hợp hài hòa giữa sắc thái cổ điển và hiện đại(sự xuất hiện của cái tưởng
như tầm thường, vô nghĩa và cảm xúc buồn mang dấu ấn cái tôi cá nhân...)
- Nghệ thuật đối, bút pháp tả cảnh giàu tính tạo hình, hệ thống từ láy giàu giá trị
biểu cảm(lơ thơ, đìu hiu, chót vót..)
2. Ý nghĩa:
Vẽ đẹp của bức tranh thiên nhiên, nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn,
niềm khát khao hòa nhập với cuộc đời và lòng yêu quê hương đất nước tha thiết
của tác giả
3. Vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại
Tràng giang là bài thơ có vẻ đẹp cổ điển. Vẻ đẹp này thể hiện ở nhiều phương
diện:
- Thể thơ (bảy chữ) chủ yếu với cách ngắt nhịp quen thuộc, tạo nên sự cân đối,
hài hòa.
- Sự nhạy cảm của tác giả với cảnh tượng thiên nhiên bát ngát, không gian vô
tận, hướng tới thời gian vĩnh hằng.
- Cách thức miêu tả những bức tranh thiên nhiên (chỉ miêu tả một vài nét đơn
sơ, chủ yếu ghi lại hồn cốt của tạo vật)
- Thi liệu.
- Âm điệu chủ đạo của bài thơ.
- Nỗi buồn của tác giả.
- Cách vận dụng sáng tạo lối diễn đạt và các ý có tỏng thơ cổ (chẳng hạn như
ở các bài thơ Đăng cao của Đỗ Phủ, Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu).
- Vẻ đẹp trang nhã, thanh cao toát ra từ toàn bộ bài thơ…
· Song, Tràng giang cũng là bài thơ hiện đại:
- Vận dụng thể thơ bảy chữ.
- Cách sử dụng thi liệu (bên cạnh thi liệu cũ có thi liệu mới).
- Cách cảm nhận sự vật, khiến “cái buồn vời vợi dàn ra cho đến hư vô”
+Vì thế, Tràng giang đúng là một bài thơ vừa cổ điển vừa hiện đại.
Các dạng đề làm :
Câu 1: Cảm nhận của anh chị về vẻ đẹp khổ thơ đầu trong bài "Tràng giang" của
Huy Cận.
Câu 2: Có ý kiến cho rằng Tràng giang là một bài thơ vừa cổ điển vừa hiện đại.
Phân tích bài thơ để làm sang tỏ nhận định trên.

BÀI 3 : ĐÂY THÔN VĨ DẠ (HÀN MẶC TỬ)
I. Tác giả, tác phẩm:
1.Tác giả :
Hàn Mặc Tử là người có số phận bất hạnh. Ông là một trong những
nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt trong phong trào Thơ mới « ngôi sao chổi trên
bầu trời thơ Việt Nam »(Chế Lan Viên)
2. Tác phẩm:
a. Hoàn cảnh sáng tác. Viết năm 1938 in trong tập Thơ Điên, được khơi nguồn
cảm hứng từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc
II. Nội dung, nghệ thuật của bài thơ :
1. Khổ thơ 1. Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết.
- Câu thơ 1:
+ Hình thức: câu hỏi.
+ Nội dung: lời mời, lời trách móc.
+Chủ thể trữ tình tự phân thân, tự giãi bày tâm trạng: nuối tiếc, nhớ mong.
- Bức tranh thôn Vĩ được khắc hoạ tươi đẹp, sống động. Hình ảnh: Nắng hàng c au
- Nắng mới.
+Nắng ban mai buổi hừng đông tinh khiết trong lành chiếu lên những hàng cau
còn ớt đẫm sương đêm.
+ Nắng có linh hồn riêng. Nắng mang hồn xứ Huế. 8
- Sự lặp lại 2 lần từ “nắng” khiến câu thơ tràn ngập ánh sáng.
+Thiên nhiên sống động rạng ngời , gợi cảm giác khoẻ khoắn, ấm áp.
- Đại từ phiếm chỉ “ai” gợi cái ám ảnh thương nhớ.
-“Xanh như ngọc”: Biện pháp so sánh gợi lên màu sắc tươi sáng của vườn cây.
- “Mặt chữ điền”: khuôn mặt hiền lành phúc hậu.
àVẻ đẹp: cảnh và người xứ Huế.
Bức tranh thiên nhiên đẹp, thơ mộng, tràn đầy sức sống, đầy ắp ánh sáng, có màu
sắc, có đường nét. Hình ảnh con người: dịu dàng e ấp.
+ Tiếng nói bâng khuâng rạo rực của một tâm hồn yêu đời, khát sống, hướng về cái
trong trẻo, thánh thiện.
2. Khổ thơ 2. Cảnh hoàng hôn thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa
- Gió, mây, sông nước, hoa được nhân cách hoá để nói tâm trạng.
- Cái ngược đường của gió, mây gợi sự chia ly đôi ngả -> nỗi đau thân phận xa
cách, chia lìa.
+ Không gian trống vắng, thời gian như ngừng lại, cảnh vật hờ hững với con
người.
- Hình ảnh thơ không xác định: “Thuyền ai”, “sông trăng” à Cảm giác huyền ảo.
+ Cảnh đẹp như trong cõi mộng.
- Câu hỏi tu từ ẩn chứa một nỗi mong chờ tha thiết, đồng thời cũng chứa đầy nỗi
phấp phỏng hoài nghi.
+ Không gian mênh mông có đủ cả gió, mây, sông, nước, trăng, hoa cảnh đẹp
nhưng buồn vô hạn.
3. Khổ thơ 3. Nỗi niềm thôn Vĩ
- Chủ thể: Đầy khát vọng trong tiếng gọi
- Khách thể: hư ảo, nhạt nhoà, xa xôi.
+ Câu thơ hàm chứa nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu
thương con người và thiết tha với cuộc đời – tìm vào thế giới hư ảo như một cứu
cánh nhưng hụt hẫng, xót xa..
- Điệp từ, điệp ngữ,
- Nhạc điệu sâu lắng và buồn mênh mang.
- Câu hỏi lửng lơ nửa nghẹn ngào, nửa trách móc, 9
- Chân dung nội tâm của tác giả: Khao khát yêu thương, đồng cảm.
- Đại từ phiếm chỉ : ai / tình ai ?
- Câu thơ cuối dường như chính là câu trả lời cho câu thơ thứ nhất.
Khổ 1.
-----
Khổ 2
Thế giới thực
-Thời gian: bình minh
Không gian: Miệt vườn
àkhung cảnh tươi sáng, ấm áp, hài hoà giữa con người và thiên nhiên.
Thế giới mộng
- Thời gian: đêm trăng
- Không gian: trời, mây, sông, nước
àkhung cảnh u buồn, hoang vắng, chia lìa…
Thế giới ảo.
Thời gian: không xác định.
- Không gian: đường xa, sương khói.
-àkhung cảnh hư ảo…
Khổ 3. Khát vọng yêu thương, đồng cảm!
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật:

- Trí tưởng tượng phong phú
- Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, thủ pháp lấy động gợi tỉnh, sử dụng câu hỏi tư từ...
- Hình ảnh sáng tạo có sự hòa quyện giữa thực và ảo
2. Ý nghĩa:
Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêu đời, ham sống mãnh liệt mà đầy uẩn khúc
của nhà thơ.

Các dạng đề làm :
Câu 1 : Cảm nhận của anh chị về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.
Câu 2 : Cảm nhận về đoạn thơ trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử :
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử.
BÀI 4 : TỪ ẤY (TỐ HỮU)
I. Tác giả, tác phẩm: 10
1. Tác giả :

- Tố Hữu được đánh giá là : lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại.
- Thơ trữ tình – chính trị : thể hiện lẽ sống , lí tưởng, tình cảm cách mạng của con
người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc, truyền thống.
2. Tác phẩm:
- Xuất xứ : thuộc phần Máu lửa của tập Từ ấy(71 bài), sáng tác tháng 7 năm 1938,
đánh dấu mốc quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu
II. Nội dung, nghệ thuật của bài thơ :
1. Khổ 1. Niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng của Đảng, cách mạng.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim…
- Hình ảnh ẩn dụ : nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim.
à Khẳng định lí tưởng cộng sản như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn
nhà thơ.
- Hình ảnh ẩn dụ và so sánh : Hồn tôi- vườn hoa lá - đậm hương – rộn tiếng chim.
à Diễn tả niềm vui sướng, say mê nồng nhiệt của nhà thơ khi bắt gặp lí tưởng mới.
2. Khổ 2. Nhận thức mới về lẽ sống.
Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với muôn nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ
Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.
- Sự gắn bó hài hoà giữa cái tôi cá nhân với cái ta chung của xã hội - đặc biệt là với
những người lao động nghèo khổ.
+ Buộc: Ý thức tự nguyện, quyết tâm cao độ.
+ Trang trải: Tâm hồn trải rộng với cuộc đời, tạo sự đồng cảm sâu sắc.
+ Trăm nơi: Hoán dụ – chỉ mọi người sống ở khắp nơi.
+ Khối đời: Ẩn dụ – Khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ, đoàn kết chặt chẽ,
cùng phấn đấu vì mục tiêu chung.
à Nhà thơ đã đặt mình giữa dòng đời và môi trường rộng lớn của quần chúng lao
khổ và ở đó Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh không chỉ bằng nhận thức
mà còn bằng tình cảm mến yêu của trái tim nhân ái.
3. Khổ 3. Sự chuyển biến trong tình cảm.
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm, cù bất cù bơ…
- Điệp từ: là, của, vạn…
- Đại từ nhân xưng: Con, em, anh 11
- Số từ ước lệ: vạn.
à Nhấn mạnh và khẳng định một tình cảm gia đình đầm ấm, thân thiết, gắn bó ruột
thịt.
àSự cảm nhận sâu sắc mình là thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ.
à Sự biểu hiện xúc động, chân thành khi nói tới những kiếp người bất hạnh, dãi
dầu sương gió.
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật:
- Hình ảnh tươi sáng giàu ý nghĩa tượng trưng ; ngôn ngữ giàu nhạc điệu ; giọng
thơ sảng khoái, nhịp điệu thơ hăm hở,...
2. Ý nghĩa văn bản:
Niềm vui lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cộng sản

Các dạng đề làm :
Câu 1 : Cảm nhận của anh (chị) về bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu để thấy rõ niềm vui
sướng, say mê mãnh liệt của nhà thơ trong buổi đầu gặp gỡ lý tưởng cộng sản.
Câu 2 : Cảm nhận của anh/ chị về khổ thơ đầu trong bài thơ Từ ấy của Tố Hữu:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim...
(Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 - tập 2, NXB Giáo dục,2009)

BÀI 5 : CHIỀU TỐI (MỘ)- HỒ CHÍ MINH
I. Giới thiệu Nhật kí trong tù .
1. Hoàn cảnh ra đời :

- Là tập nhật kí viết bằng thơ, được Bác sáng tác trong thời gian bị chính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt giam từ tháng 8/1942 – 9/1943 tại tỉnh Quảng Tây.
- Tập thơ gồm 134 bài bằng chữ Hán(chủ yếu là thơ thất ngôn tứ tuyệt)
2. Gía trị cơ bản :
- Bức tranh nhà tù và một phần xã hội trung hoa dân quốc
- Bức chân dung tự họa của con người Hồ Chí Minh : bậc đại nhân, đại trí , đại
dũng
3. Vị trí bài thơ
Bài thứ 31 của tập nhật kí trong tù, sáng tác cuối mùa thu 1942, trên đường đi đày
từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo 12
II. Nội dung, nghệ thuật của bài thơ :
1. Bức tranh thiên nhiên chiều muộn nơi núi rừng. [Tính cổ điển]

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không ;
- Cánh chim mệt mỏi tìm chốn ngủ và chòm mây cô đơn trôi lững lờ giữa tầng
không. Đây cũng là cảnh thực trong cảm nhận của tù nhân – thi sĩ(chuyển động của
cánh chim, chòm mây lẻ về trạng thái yên nghĩ>< tù nhân nơi đất khách quê người
trong cảnh chiều tà mong mỏi chốn bình yên : quê hương, gia đình...)
àHai câu đầu thể hiện vẽ đẹp tâm hồn, tình yêu thiên nhiên và phong thái ung
dung tự tại của Bác.
2. Bức tranh cuộc sống sinh hoạt của con người. [Tính hiện đại]
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.
- Vẻ đẹp khỏe khoắn của người thiếu nữ xóm núi đang xay ngô bên lò than. Cuộc
sống đời thường đã đem đến cho người tù hơi ấm, niềm vui(Thiếu nữ dịch cô em
chưa sát)
- Câu 4 : sự vận động của tự nhiên cũng là sự vận động của tư tưởng, hình tượng
thơ Hồ Chí Minh : chiều chuyển dần sang tối nhưng bức tranh thơ lại mở ra bằng
ánh sáng rực hồng(chữ hồng là nhãn tự, làm sáng bừng cả bài thơ, làm ấm áp bức
tranh và ấm áp lòng người).(nguyên tác không có chữ tối, bản dịch có phá vỡ nét
đẹp của câu thơ)
à Con người là trung tâm của bức tranh. Cùng với sự vận động của thời gian là sự
Các dạng đề làm:
Câu 1. Phân tích Bức tranh thiên nhiên chiều muộn nơi núi rừng. [Tính cổ điển]
Câu 2. Phân tích Bức tranh cuộc sống sinh hoạt của con người. [Tính hiện đại]
CÁC DẠNG SO SÁNH

Câu 1: Cảm nhận khổ 1 bài thơ Tràng Giang và khổ 1 Đây thôn vĩ dạ

Câu 2: Cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ Tràng Giang và Bài thơ Đây thôn vĩ dạ

Tác giả bài viết: Lê Thị Vinh

Nguồn tin: Nguồn tin nội bộ:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  ỨNG DỤNG MỞ

  LIÊN KẾT WEBSITE

 THỐNG KÊ TRUY CẬP

  • Đang truy cập9
  • Hôm nay1,164
  • Tháng hiện tại16,309
  • Tổng lượt truy cập2,066,494
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây